Hành Trình Đức Tin Của Đức Maria
02/10/2022
Thư của cha Emmanuel d’Alzon
18/10/2022
Show all

Sứ điệp Khánh Nhật Truyền Giáo 2022

Sứ điệp Khánh Nhật Truyền Giáo 2022 Của Đức Thánh Cha Phanxicô:

Anh Em Sẽ Là Chứng Nhân Của Thầy

Bản dịch Việt Ngữ của J.B. Đặng Minh An 07/Jan/2022

Khánh Nhật Truyền Giáo là một ngày dành riêng cho Giáo Hội Công Giáo trên toàn thế giới để đổi mới dấn thân của mình cho sứ mệnh truyền giáo. Khánh Nhật Truyền Giáo được tổ chức vào Chúa Nhật áp chót của tháng 10 hàng năm. Năm nay Khánh Nhật Truyền Giáo được cử hành vào ngày Chúa Nhật 23 tháng 10.

Mỗi năm Đức Thánh Cha sẽ công bố một chủ đề cho Khánh Nhật Truyền Giáo của năm đó. Chủ đề năm nay là “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy” (Cv 1: 8).

Khánh Nhật Truyền Giáo được Đức Giáo Hoàng Piô thứ 11 thiết lập vào năm 1926 và được cử hành lần đầu tiên vào năm 1927. Như Thánh Gioan Phaolô II đã giải thích vào năm 2001, Đức Thánh Cha Piô “chấp nhận yêu cầu của Hiệp hội Giáo hoàng Truyền bá Đức tin về việc thiết lập một ngày cầu nguyện và quảng bá cho việc truyền giáo ‘sẽ được cử hành vào cùng một ngày ở mọi giáo phận, giáo xứ và các cơ cấu trong thế giới Công Giáo… và khuyến khích việc dâng hiến cho sứ mệnh truyền giáo.’”

Hôm 6 tháng Giêng, Lễ Hiển Linh, Tòa Thánh đã công bố sứ điệp Khánh Nhật Truyền Giáo năm nay của Đức Thánh Cha.

Nguyên bản tiếng Ý và các ngôn ngữ khác tại https://press.vatican.va/content/salastampa/it/bollettino/pubblico/2022/01/06/0011/00022.html. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

“Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy” (Cv 1,8)

Anh chị em thân mến!

Những lời này đã được Chúa Giêsu Phục Sinh nói với các môn đệ ngay trước khi Người lên trời, như chúng ta biết từ Sách Tông Đồ Công Vụ: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđêa, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (1,8). Những lời đó cũng là chủ đề của Khánh Nhật Truyền Giáo 2022, là ngày như mọi khi, nhắc nhở chúng ta rằng Giáo Hội tự bản chất là truyền giáo. Khánh Nhật Truyền Giáo năm nay mang đến cho chúng ta cơ hội để kỷ niệm một số sự kiện quan trọng trong đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội: đó là kỷ niệm bốn trăm năm ngày thành lập Congregatio de Propaganda Fide – Bộ Truyền Bá Đức Tin, nay là Congregatio pro Gentium Evangelizatione – Bộ Truyền Giảng Tin Mừng Cho Các Dân Tộc, và kỷ niệm hai trăm năm Hội Truyền bá Đức tin. Một trăm năm trước, hội này, cùng với Hiệp hội Tuổi thơ Thánh và Hiệp hội Thánh Phêrô Tông đồ, đã được nâng lên hàng các hội “Giáo hoàng”.

Chúng ta hãy suy ngẫm về ba cụm từ chính tổng hợp ba nền tảng của cuộc đời và sứ mệnh của mỗi môn đệ: “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy”, “đến tận cùng trái đất” và “anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần”.

  1. “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy” là lời kêu gọi mọi Kitô Hữu làm chứng cho Chúa Kitô

Đây là điểm trung tâm, trọng tâm của giáo huấn Chúa Giêsu dành cho các môn đệ, liên quan đến việc họ được sai đến thế gian. Các môn đệ phải trở thành chứng nhân của Chúa Giêsu, nhờ ơn Chúa Thánh Thần mà họ sẽ nhận được. Bất cứ nơi nào họ đi và ở bất cứ nơi nào họ đến. Đức Kitô là người đầu tiên được sai đi, với tư cách là “nhà truyền giáo” của Chúa Cha (x. Ga 20,21), và như vậy, Người là “chứng nhân trung thành” của Chúa Cha (x. Kh 1,5). Tương tự như thế, mọi Kitô hữu được kêu gọi trở thành nhà truyền giáo và làm chứng cho Chúa Kitô. Và Giáo Hội, là cộng đoàn các môn đệ của Chúa Kitô, không có sứ mệnh nào khác hơn là đem Tin Mừng đến cho toàn thế giới bằng cách làm chứng cho Chúa Kitô. Truyền giáo là căn tính của Giáo Hội.

Nhìn sâu hơn vào những từ này, “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy”, có thể làm sáng tỏ một vài khía cạnh luôn hợp thời trong sứ mệnh mà Chúa Kitô đã giao phó cho các môn đệ. Hình thức số nhiều của động từ nhấn mạnh tính chất cộng đồng và Giáo Hội của ơn gọi truyền giáo dành cho các môn đệ. Mỗi người được rửa tội được mời gọi truyền giáo, trong Giáo Hội và theo sự ủy thác của Giáo Hội: do đó, việc truyền giáo được thực hiện cùng nhau, không phải riêng lẻ, nhưng trong sự hiệp thông với cộng đồng Giáo Hội, và không phải theo sáng kiến của riêng ai. Ngay cả trong những trường hợp một cá nhân trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó thực hiện sứ vụ loan báo Tin Mừng một mình, thì người đó phải luôn luôn hiệp thông với Giáo Hội đã ủy quyền cho mình. Như Thánh Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã dạy trong Tông Huấn Evangelii Nuntiandi – Loan Báo Tin Mừng, một tài liệu mà tôi yêu quý: “Truyền giáo không phải dành cho một cá nhân như một hành động riêng lẻ và biệt lập; nó là một điều có tính Giáo Hội sâu sắc. Khi một nhà thuyết giáo, giáo lý viên hoặc một mục tử rao giảng Tin Mừng ở vùng đất xa xôi ít người biết đến nhất, tập hợp cộng đồng nhỏ của người ấy lại với nhau hoặc thực hiện một bí tích, dù chỉ một mình, thì người đó đang thực hiện một hành động mang tính Giáo Hội, và hành động của người đó chắc chắn gắn liền với hoạt động truyền bá Tin Mừng của toàn thể Giáo Hội bằng các mối quan hệ thể chế, nhưng cũng bằng các liên kết vô hình sâu xa trong trật tự ân sủng. Điều này giả định rằng người ấy hành động không phải vì sứ mệnh tự gán cho mình hoặc theo cảm hứng cá nhân, nhưng kết hợp với sứ mệnh của Giáo Hội và nhân danh Giáo Hội” (số 60). Thật vậy, không phải ngẫu nhiên mà Chúa Giêsu sai các môn đồ ra đi truyền giáo theo từng cặp; Việc làm chứng của các Kitô hữu cho Chúa Kitô trước hết mang bản chất cộng đồng. Do đó, khi thực hiện sứ mệnh, sự hiện diện của một cộng đồng, bất kể quy mô của nó, có tầm quan trọng cơ bản.

Ngoài ra, các môn đệ còn được thúc giục sống cuộc sống cá nhân của mình trên cơ sở truyền giáo: họ được Chúa Giêsu sai đến thế gian không chỉ để thực hiện sứ vụ được trao phó, mà còn và trên hết là sống sứ vụ ấy; không chỉ để làm chứng, mà còn và trên hết là trở thành chứng nhân của Chúa Kitô. Theo những lời đầy xúc động của Tông đồ Phaolô, “Chúng ta luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng ta” (2Cr 4,10). Bản chất của sứ vụ là làm chứng cho Chúa Kitô, nghĩa là làm chứng cho cuộc đời, cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người vì tình yêu của Chúa Cha và nhân loại. Không phải ngẫu nhiên mà các Tông đồ tìm kiếm người thay thế Giuđa trong số những người giống như các ngài, nghĩa là đã từng là nhân chứng cho sự phục sinh của Chúa (xem Cv 1,21). Chúa Kitô, đúng ra phải nói là Chúa Kitô đã sống lại từ cõi chết, là Đấng mà chúng ta phải làm chứng và là Đấng mà chúng ta phải chia sẻ sự sống. Những nhà truyền giáo của Chúa Giêsu Kitô không được sai đến để tự truyền đạt thông tin, để thể hiện những phẩm chất và khả năng thuyết phục hoặc kỹ năng quản lý của họ. Thay vào đó, họ có niềm vinh dự tột bậc khi được trình bày về Chúa Kitô bằng lời nói và việc làm, loan báo cho mọi người Tin Mừng về ơn cứu rỗi của Ngài, như các Tông đồ đầu tiên đã làm, với sự vui mừng và mạnh dạn.

Thành ra, suy cho cùng, nhân chứng đích thực là “người tử vì đạo”, người hiến mạng sống của mình cho Chúa Kitô, đáp lại món quà là chính Ngài mà Chúa Kitô đã trao ban cho chúng ta. “Lý do chính để truyền giáo là tình yêu của Chúa Giêsu mà chúng ta đã nhận được, cảm nghiệm cứu độ thúc giục chúng ta ngày càng yêu mến Người hơn nữa” (Tông huấn Evangelii Gaudium – Niềm Vui Phúc Âm, 264).

Cuối cùng, khi nói đến chứng tá Kitô giáo, nhận xét của Thánh Phaolô Đệ Lục vẫn luôn có giá trị: “Con người hiện đại sẵn lòng lắng nghe những người làm chứng hơn là những người thầy, và nếu anh ta lắng nghe những người thầy, đó là vì họ là những nhân chứng” (Evangelii Nuntiandi, 41). Vì lý do này, lời chứng của một đời sống Kitô hữu đích thực là nền tảng cho việc truyền bá đức tin. Mặt khác, sứ vụ rao giảng về con người và sứ điệp của Chúa Kitô cũng cần thiết như nhau. Thật vậy, Đức Phaolô Đệ Lục tiếp tục nói: “Việc rao giảng, tức là việc công bố sứ điệp bằng lời nói, thực sự luôn luôn là điều không thể thiếu… Lời nói vẫn luôn có liên quan, đặc biệt khi lời nói ấy mang lại quyền năng của Thiên Chúa. Đây là lý do tại sao tiên đề của Thánh Phaolô, “Tin là do bởi được nghe” (Rm 10,17), vẫn luôn còn giữ được tính thời sự của nó: chính Lời được nghe dẫn đến đức tin” (sđd, 42).

Vì thế, trong việc truyền bá Tin Mừng, gương sáng của đời sống Kitô hữu và việc rao truyền Chúa Kitô không thể tách rời. Điều này phục vụ cho điều kia. Chúng là hai lá phổi mà bất kỳ cộng đồng nào cũng phải hít thở, nếu muốn truyền giáo. Hình thái chứng tá trọn vẹn, nhất quán và vui tươi này chắc chắn sẽ là một sức mạnh lôi cuốn đối với sự phát triển của Giáo Hội trong thiên niên kỷ thứ ba. Tôi khuyến khích mọi người một lần nữa hãy lấy lại lòng can đảm, sự thẳng thắn và sự bạo dạn của những Kitô hữu tiên khởi, để làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô bằng lời nói và việc làm trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.

  1. “Đến tận cùng trái đất” – Tính thời sự trường tồn của sứ mệnh truyền bá Tin Mừng toàn cầu

Khi bảo các môn đệ làm nhân chứng cho Người, Chúa Phục sinh cũng cho họ biết nơi họ được sai đi: “… tại Giêrusalem, khắp miền Giuđêa, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Ở đây chúng ta thấy rõ tính cách phổ quát trong sứ mệnh của các môn đệ. Chúng ta cũng thấy sự mở rộng địa lý theo hình thái “ly tâm” của sứ mệnh, như thể trong các vòng tròn đồng tâm, bắt đầu từ Giêrusalem, nơi mà truyền thống Do Thái coi là trung tâm của thế giới, tới Giuđêa và Samaria và đến “tận cùng trái đất”. Các môn đệ được sai đến không phải để chiêu dụ tín đồ, nhưng để rao truyền; Kitô hữu không chiêu dụ tín đồ. Sách Tông Đồ Công Vụ nói về sự mở rộng truyền giáo này và cung cấp một hình ảnh nổi bật về Giáo Hội “ra đi” trung thành với lời kêu gọi làm chứng cho Đức Kitô là Chúa và được hướng dẫn bởi sự quan phòng của Thiên Chúa trong những điều kiện cụ thể của cuộc đời mình. Sau khi bị bắt bớ ở Giêrusalem, các môn đệ lan rộng khắp miền Giuđêa và Samari, những Kitô hữu đầu tiên làm chứng cho Chúa Giêsu ở khắp mọi nơi (xem Cv 8,1.4).

Một cái gì đó tương tự vẫn xảy ra trong thời đại hôm nay của chúng ta. Do sự đàn áp tôn giáo và tình hình chiến tranh và bạo lực, nhiều Kitô hữu buộc phải chạy trốn khỏi quê hương của họ đến các quốc gia khác. Chúng ta biết ơn những anh chị em này, những người không để mình bị giam cầm trong đau khổ của riêng mình nhưng đã làm chứng cho Chúa Kitô và cho tình yêu của Thiên Chúa tại các quốc gia chấp nhận họ. Do đó, Thánh Phaolô Đệ Lục khuyến khích họ nhận ra “trách nhiệm đặt lên vai những người nhập cư tại quốc gia tiếp nhận họ” (Evangelii Nuntiandi, 21). Càng ngày, chúng ta càng thấy sự hiện diện của các tín hữu thuộc nhiều quốc tịch khác nhau làm phong phú thêm bộ mặt của các giáo xứ và làm cho các giáo xứ trở nên hoàn vũ hơn, Công Giáo hơn. Do đó, việc chăm sóc mục vụ cho người di cư nên được coi trọng như một hoạt động truyền giáo quan yếu cũng có thể giúp các tín hữu địa phương khám phá lại niềm vui của đức tin Kitô mà họ đã lãnh nhận.

Những từ ngữ “cho đến tận cùng trái đất” nên thách thức các môn đệ của Chúa Giêsu trong mọi thời đại và thúc giục họ vượt ra khỏi những nơi quen thuộc để làm chứng cho Ngài. Bất kể tất cả những lợi ích của du lịch hiện đại, vẫn còn những khu vực địa lý mà các nhân chứng truyền giáo của Chúa Kitô chưa đến để mang Tin mừng về tình yêu của Người. Vì thế cũng không có thực tại nào của con người là xa lạ với mối quan tâm của các môn đệ của Chúa Giêsu trong sứ mệnh của họ. Giáo Hội của Chúa Kitô sẽ tiếp tục “ra đi” hướng tới những chân trời địa lý, xã hội và hiện sinh mới, hướng tới những nơi chốn “biên giới” và những hoàn cảnh ngoại vi của con người, để làm chứng cho Chúa Kitô và tình yêu của Người trước những người nam nữ của mọi dân tộc, mọi nền văn hóa và địa vị xã hội. Theo nghĩa này, việc truyền giáo sẽ luôn là một missio ad gentes – sứ mệnh đến với muôn dân, như Công đồng Vaticanô II đã dạy. Giáo Hội phải không ngừng tiến về phía trước, vượt ra ngoài giới hạn của chính mình, để làm chứng cho tất cả tình yêu của Chúa Kitô. Ở đây, tôi muốn ghi nhớ và bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả những nhà truyền giáo đã hy sinh mạng sống của họ để “đẩy mạnh” việc thể hiện tình yêu của Chúa Kitô nơi tất cả những anh chị em mà họ đã gặp.

  1. Anh em sẽ nhận được quyền năng từ Chúa Thánh Thần” – Chúng ta hãy luôn được Thần Khí củng cố và hướng dẫn.

Khi Chúa Kitô Phục Sinh ủy thác cho các môn đệ làm nhân chứng cho Người, Người cũng hứa ban cho họ những ân sủng cần thiết để hoàn thành trách nhiệm cao cả này: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy” (Cv 1,8). Theo lời tường thuật trong sách Tông Đồ Công Vụ, chính sau khi Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các môn đệ, hành động đầu tiên làm chứng cho Chúa Kitô bị đóng đinh và phục sinh đã diễn ra. Lời tuyên bố kerygmatic – bài diễn văn “truyền giáo” của Thánh Phêrô cho các cư dân của Giêrusalem – đã mở đầu một kỷ nguyên phúc âm hóa thế giới của các môn đệ Chúa Giêsu. Trước đây họ yếu đuối, sợ hãi và cuộn tròn vào chính mình, nhưng Chúa Thánh Thần đã ban cho họ sức mạnh, lòng can đảm và sự khôn ngoan để làm chứng cho Chúa Kitô trước mọi người.

Cũng như “không ai có thể nói ‘Đức Giêsu là Chúa’, ngoại trừ bởi Chúa Thánh Thần” (1Cr 12,3), thì cũng vậy, không một Kitô hữu nào có thể làm chứng đầy đủ và đích thực cho Đức Kitô là Chúa nếu không được Thần Khí soi dẫn và trợ giúp. Tất cả các môn đệ truyền giáo của Chúa Kitô được kêu gọi để nhận ra tầm quan trọng thiết yếu trong công việc của Thánh Linh, trong sự hiện diện của Ngài hàng ngày và nhận được sức mạnh và sự hướng dẫn không ngừng của Ngài. Thật vậy, chính khi cảm thấy mệt mỏi, không có động lực hoặc bối rối, chúng ta nên nhớ cầu nguyện với Chúa Thánh Thần. Tôi xin nhấn mạnh một lần nữa rằng lời cầu nguyện đóng một vai trò cơ bản trong đời sống truyền giáo, vì nó cho phép chúng ta được làm mới và củng cố bởi Thánh Linh, là nguồn thần linh vô tận của năng lượng tái tạo và niềm vui trong việc chia sẻ sự sống của Chúa Kitô với những người khác. “Nhận được niềm vui của Thánh Linh là một ân sủng. Hơn nữa, đó là sức mạnh duy nhất giúp chúng ta có thể rao giảng Tin Mừng và tuyên xưng đức tin của chúng ta nơi Chúa” (Thông điệp gửi các Hiệp hội Truyền giáo Giáo hoàng, ngày 21 tháng 5 năm 2020). Vì vậy, Chúa Thánh Thần là nhân vật chính thực sự của sứ mệnh. Chính Ngài là người cho chúng ta lời nói đúng đắn, vào đúng thời điểm và đúng cách.

Dựa trên hành động này của Chúa Thánh Thần, chúng ta cũng muốn xem xét các ngày kỷ niệm truyền giáo sẽ được cử hành vào năm 2022. Việc thành lập Bộ Truyền Bá Đức Tin vào năm 1622 được thúc đẩy bởi mong muốn thúc đẩy sứ mệnh truyền giáo trong các lãnh thổ mới. Một tầm nhìn sâu sắc được Chúa quan phòng! Thánh Bộ đã tỏ ra có vai trò quan trọng trong việc thiết lập sứ mệnh truyền bá Phúc âm của Giáo Hội sao cho thực sự không bị các thế lực thế gian can thiệp, nhằm thành lập các Giáo Hội địa phương mà ngày nay đang thể hiện sức mạnh to lớn. Chúng ta hy vọng rằng, như trong bốn thế kỷ qua, Thánh Bộ, với ánh sáng và sức mạnh của Thánh Linh, sẽ tiếp tục và tăng cường công việc điều phối, tổ chức và thúc đẩy các hoạt động truyền giáo của Giáo Hội.

Cũng chính Thánh Thần, Đấng hướng dẫn Giáo Hội hoàn vũ, cũng truyền cảm hứng cho những người nam nữ bình thường thực hiện những sứ mệnh phi thường. Thành ra, một phụ nữ trẻ người Pháp, Pauline Jaricot, đã thành lập Hiệp hội Truyền bá Đức tin cách đây đúng hai trăm năm. Việc phong chân phước cho bà sẽ được cử hành trong năm thánh này. Mặc dù sức khỏe yếu, bà đã đón nhận sự soi dẫn của Thiên Chúa để thiết lập một mạng lưới cầu nguyện và quyên góp cho các nhà truyền giáo, để các tín hữu có thể tích cực tham gia vào sứ mệnh “đến tận cùng trái đất”. Ý tưởng tuyệt vời này đã làm nảy sinh ra lễ kỷ niệm Khánh Nhật Truyền Giáo hàng năm, trong đó số tiền thu được trong các cộng đồng địa phương được áp dụng cho quỹ chung để Đức Giáo Hoàng hỗ trợ các hoạt động truyền giáo.

Về vấn đề này, tôi cũng nghĩ đến Giám mục người Pháp Charles de Forbin-Janson, là người đã thành lập Hiệp hội Tuổi thơ Thánh để thúc đẩy việc truyền giáo giữa trẻ em, với phương châm “Trẻ em truyền giáo cho trẻ em, trẻ em cầu nguyện cho trẻ em, trẻ em giúp đỡ trẻ em toàn thế giới”. Tôi cũng nghĩ đến Jeanne Bigard, người đã thành lập Hiệp hội Thánh Phêrô Tông đồ để hỗ trợ các chủng sinh và linh mục trong các xứ truyền giáo. Ba Hội Truyền giáo đó đã được công nhận là các hội “Giáo hoàng” cách đây đúng một trăm năm. Cũng chính dưới sự soi sáng và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Chân phước Paolo Manna, sinh ra cách đây 150 năm, đã thành lập Liên Hiệp Các Hội Giáo Hoàng Truyền giáo ngày nay, nhằm nâng cao nhận thức và khích lệ tinh thần truyền giáo giữa các linh mục, nam nữ tu sĩ và toàn thể dân Chúa. Chính Thánh Phaolô Đệ Lục đã là một phần của Hội này, và ban cấp tư cách hội “Giáo hoàng” cho hội ấy. Tôi đề cập đến bốn Hiệp hội Truyền giáo Giáo hoàng này vì những công lao lịch sử to lớn của họ, nhưng cũng để khuyến khích anh chị em vui mừng với họ, trong năm đặc biệt này, vì những hoạt động mà họ đã thực hiện nhằm hỗ trợ sứ mệnh truyền bá Tin Mừng trong Giáo Hội, cả trên bình diện hoàn vũ lẫn địa phương. Tôi hy vọng rằng các Giáo Hội địa phương sẽ tìm thấy trong các Hội này một phương tiện chắc chắn để nuôi dưỡng tinh thần truyền giáo trong dân Chúa.

Anh chị em thân mến, tôi tiếp tục mơ ước về một Giáo Hội truyền giáo hoàn toàn, và một kỷ nguyên mới của hoạt động truyền giáo giữa các cộng đồng Kitô. Tôi xin nhắc lại ước muốn lớn lao của Ông Môisê đối với dân Chúa trong cuộc hành trình của họ: “Phải chi tất cả đoàn dân Chúa đều là những nhà tiên tri!” (Ds 11,29). Thật vậy, ước chi tất cả chúng ta trong Giáo Hội đều là những gì chúng ta đã nhận được nhờ phép rửa tội: là các tiên tri, các nhân chứng, và là những nhà truyền giáo của Chúa, nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, cho đến tận cùng trái đất!

Lạy Đức Maria, Nữ vương Truyền Giáo, cầu cho chúng con!

Rôma, Đền Thờ Thánh Gioan Latêranô, ngày 6 tháng Giêng năm 2022, Lễ Hiển Linh

 Đức Thánh Cha Phanxicô

Nguồn: https://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/SuDiep/TruyenGiao

Comments are closed.

Liên hệ